Cuộc đời Đức Cha Pierre Lambert de la Motte nằm gọn trong lòng thế kỷ XVII (1624-1679). Ngài sinh ra và lớn lên dưới triều đại vua Louis XIII (1610-1643). Ngài chọn hướng đi cho đời mình và thực hiện sự lựa chọn đó dưới triều đại vua Louis XIV (1643-1715).

THỜI NIÊN THIẾU

Phêrô-Maria sinh ngày 16 tháng 1 năm 1624 tại Lisieux vùng Normandie, phía Tây Bắc nước Pháp. Song thân là ông Pierre Lambert de la Motte và bà Catherine Heudey de Pommainville et de Bocquencey.

Sống trong gia đình đạo đức, cậu Pierre Lambert thường hay tiếp xúc với giới nông dân và chia sẻ của cải vật chất cho người nghèo. Cậu thích tản bộ trong rừng vắng để cầu nguyện. Đặc biệt cậu say mê đọc và suy niệm sách Gương Phước, một tác phẩm linh đạo đã ảnh hưởng sâu sắc trên đời sống

Giáo Hội từ hai thế kỷ trước. Lúc lên chín tuổi, năm 1633, cậu được ơn Chúa soi sáng cho biết: những người yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu nên quy tụ lại thành một Dòng mang tên Mến Thánh Giá, lấy từ đầu đề chương 11, quyển II của tác phẩm đó.

Sớm mồ côi cha mẹ và là trưởng nam trong gia đình gồm bảy chị em, Pierre Lambert phải gánh vác việc nhà, nên không hề nghĩ tới ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ. Tuy nhiên, trong thời gian theo học chương trình trung học tại trường Dòng Tên ở Caen, cậu được Cha Hayneuve, đồ đệ của Cha Louis Lallemant, khai tâm về đời sống cầu nguyện để tìm ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Sau đó, cậu được Cha Hallé Dòng Bé Mọn (Minime) hướng dẫn vào đời sống khổ hạnh, đặc điểm nổi bật của dòng này. Do ảnh hưởng cha linh hướng, cậu đã trở thành thành viên Dòng Ba Bé Mọn. Nhờ vậy, cậu tập được thói quen tốt lành: nguyện gẫm mỗi ngày hai giờ, ăn chay nhiều lần trong tuần và rước lễ hàng ngày, điều hiếm thấy trong thế kỷ XVII.

 TUỔI THANH NIÊN

Sau khi tốt nghiệp trung học, sinh viên   Pierre Lambert học luật, rồi làm luật sư lúc mới 23 tuổi, theo đúng truyền thống một gia đình thẩm phán, quý phái.

Trong khi thi hành chức nghiệp, Pierre Lambert tích cực tham gia các sinh hoạt đạo đức, tông đồ và xã hội của Giáo Hội vùng Normandie và tìm được hướng đi cho đời mình, nhờ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của ba nhân vật thời danh: ông Henri de Lévis, ông Jean de Bernières de Louvigny, Thánh Jean Eudes.

 NĂM NĂM LINH MỤC (1655 – 1660)

Để chuẩn bị chịu chức linh mục, thầy Pierre Lambert thực hiện một cuộc hành hương “khổ nhục” từ Caen đến Rennes, khoảng một trăm hai mươi cây số. Thầy cải trang thành người quê mùa, cắt tóc ngắn, ăn mặc rách rưới để được người ta khinh chê, sỉ nhục.

Sau khi thụ phong linh mục ngày 27.12.1655 tại Coutances, Cha Pierre Lambert tới phục vụ ở Rouen. Tại đây, ngài cộng tác với em ruột là Thầy Nicholas Lambert de la Motte lập một chủng viện, trao cho các tu sĩ Dòng Chúa Giêsu và Mẹ Maria của Thánh Jean Eudes điều khiển. Đồng thời, Ngài hăng say dạy giáo lý cho trẻ nhỏ, thành lập một cô nhi viện và một trung tâm tiếp đón những thiếu nữ hư hỏng. Ngài được Hiệp Hội Thánh Thể đặt làm giám đốc trung tâm xã hội Rouen để tạo công ăn việc làm cho những người thất nghiệp.

 HÀNH TRÌNH SANG ĐÔNG Á

Ngày 29.7.1658, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII bổ nhiệm Cha Pallu làm Giám Mục hiệu toà Heliopolis và Cha Pierre

Lambert làm Giám Mục hiệu tòa Bérythe (tức Beyrouth, thủ đô nước Liban ngày nay). Đức Cha Lambert trở về Pháp ngay để thu xếp công việc tại Rouen. Trong thời gian đó, vào ngày 9.9.1659 Tòa Thánh lại bổ nhiệm hai vị tân giám mục này làm Đại Diện Tông Tòa đi truyền giáo cho lương dân: Đức Cha Pallu đảm nhiệm miền Bắc Việt Nam, Lào và năm tỉnh miền Nam Trung Hoa; Đức Cha Lambert phụ trách miền Nam Việt Nam, Chiêm Thành, Cam Bốt, bốn tỉnh miền Tây và Nam Trung Hoa với đảo Hải Nam.

Ngày 11.6.1660, sau một tuần tĩnh tâm, Đức Cha Lambert được tấn phong Giám Mục hiệu tòa Bérythe trong nguyện đường Dòng Thăm Viếng tại Paris. Từ ngày nhận nhiệm vụ mới, hai Đức Cha Pierre Lambert de la Motte và Francois Pallu đã trở nên hai cột trụ của chương trình truyền giáo Đông Á, hai vị sáng lập chính của hội Thừa Sai Paris.

Sau đúng hai năm, hai tháng, và sáu ngày, Ngài tới Juthia, thủ đô Thái Lan, ngày 22.8.1662.   Lúc đó ở Việt Nam đang có những cuộc bắt hại dữ dội, Ngài không thể tới miền Truyền Giáo miền Nam. Juthia trong thế kỷ XVII là nơi tạm trú an toàn cho các vị thừa sai từ Châu Âu đến truyền giáo tại vùng Đông Á.

Sau cuộc hành trình bất thành này, Đức Cha Lambert đã viết một bài suy niệm sâu sắc về những thái độ nội tâm thích hợp và cần thiết cho người tông đồ, để thực hiện công việc của Thiên Chúa: Đó là phải chết đi trong Đức Giêsu Kitô và phải luôn sống trong Người. Ngài khiêm tốn thú nhận rằng mình chưa thực hiện đúng mức hai thái độ ấy (x. Sn 1-26).

CÔNG ĐỒNG JUTHIA

Công Đồng đã thảo luận và quyết định về ba việc quan trọng:

  • Lập Hội Tông Đồ.
  • Xây dựng một chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông.
  • Soạn thảo Huấn thị gửi các thừa sai.

Vào khoảng năm 1640, đời Chúa Trịnh Tráng, việc truyền giáo của các cha Dòng Tên và các thầy giảng Việt Nam đang phồn thịnh với khoảng 100.000 giáo hữu, 100 nhà thờ và 130 nhà nguyện. Bỗng nổi lên cơn bắt đạo. Theo Linh mục Sử gia Ravier Khánh: “Bấy giờ có ba người nữ ở xứ Đông (Hải Dương ngày nay) đã khấn giữ mình đồng trinh trọn đời. Thoạt khi nghe tin chúa đã ra chỉ cấm đạo thì đến Kẻ Chợ (Hà Nội) cho được xưng đạo ra trước mặt chúa. Khi đi dọc đường phải chịu nhiều khổ sở, nhưng đến Kẻ Chợ thì chúa đã tha đạo rồi. Lúc ấy ba người nữ này dốc lòng chẳng hề lìa nhau nữa, một ở chung với nhau cho được tập đi đàng nhân đức. Về sau có nhiều người nữ khác bắt chước họ. Chắc hẳn họ đã được các cha Dòng Tên huấn luyện tu đức, nhất là hướng dẫn về đời sống độc thân vì Nước Trời và tinh thần Nghèo Khó Phúc Âm.

Tuy nhiên, lịch sử cho thấy các ngài chưa dám nghĩ tới việc thành lập một Hội Dòng cho nữ giới trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ.

Năm 1666, Cha Francois Deydier đến Đàng Ngoài, gặp thấy hai nhóm trinh nữ với tổng số khoảng 30 người muốn sống chung với nhau như thế. Trong lá thư ngày 1.11.1667, Ngài phúc trình cho Đức Cha Francois Pallu biết sự kiện này và mối bận tâm của mình về việc soạn thảo cho họ một bản quy luật. Tuy không thực hiện được, nhưng Ngài có công hướng dẫn, huấn luyện họ trong đời sống thiêng liêng.

Tại Juthia

Về tới Juthia, Đức Cha Lambert soạn một hồ sơ báo cáo cho Tòa Thánh về cuộc kinh lý mục vụ Đàng Ngoài. Ngày 12.10.1670, Ngài viết lá thư đệ trình Đức Giáo Hoàng Clêmentê IX kèm theo hồ sơ ấy gồm:

  • Biên bản cuộc họp ngày 1.10.1669 tại Thăng Long công bố các sắc dụ Tòa Thánh.
  • Nghị quyết Công Đồng Phố Hiến ngày 14.2.1670.
  • Luật Hiệp Hội Mến Thánh Giá Tại Thế.
  • Luật Tu Hội Nữ Mến Thánh Giá.

Trong lá thư đó, Ngài xin Đức Thánh Cha phê chuẩn và ban ân xá cho cả hai tu hội.

Nghị quyết Công Đồng Phố Hiến được Đức Giáo Hoàng Clêmentê X phê chuẩn ngày 23.12.1673, với một số chi tiết sửa đổi trên văn bản do Đức Cha Lambert đệ trình.

DỰ TÍNH LỚN CỦA ĐỨC CHA LAMBERT

Theo chứng từ của chính Đức Cha Lambert, việc thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá nằm trong một dự tính lớn, phát sinh từ kinh nghiệm thiêng liêng của Ngài về cuộc gặp gỡ ân tình với Chúa Cứu Thế Chịu-Đóng-Đinh.

Năm 1663, ở Juthia, Ngài kể lại rằng lúc lên chín tuổi tại Lisieux, trong một lần suy niệm sách Gương Phước, quyển II, chương 11 – 12 giải thích câu Phúc Âm Lc 9, 23 nói về sự vác Thập Giá mỗi ngày đi theo Chúa, Ngài được ơn Chúa soi sáng để hình dung ra một Hội Dòng gồm những người yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu.

Như thế, các bút tích của Đức Cha Lambert cho thấy Hiệp Hội Mến Thánh Giá Tại Thế là hoa quả của một khát vọng sâu sắc, đã xuất hiện từ thời niên thiếu như một ý lực chi phối toàn bộ đời sống thiêng liêng và tông đồ của Ngài. Bản luật cũng như Linh đạo của Hiệp Hội Mến Thánh Giá Tại Thế đã trực tiếp gợi hứng cho việc hình thành bản luật tiên khởi của Dòng Nữ Mến Thánh Giá. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tồn tại dẻo dai với Giáo Hội Việt Nam qua bao thăng trầm lịch sử.

Đức Cha Lambert chính thức thành lập Dòng Mến Thánh Giá tại An Chỉ vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1671 với mười nữ tu, trong số đó chị Bề Trên khoảng 30 tuổi là em gái Cha Giuse Trang, một trong hai linh mục đầu tiên của Giáo Hội Đàng Trong. Ngài trao cho họ một bản luật giống như ở Đàng Ngoài.

MỤC ĐÍCH CỦA DÒNG NÀY

Mục đích của tu hội này là đặc biệt chuyên chú tưởng nhớ và noi theo cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu-Kitô mỗi ngày như phương thế thuận lợi nhất để đạt tới sự hiểu biết và yêu mến Người.

Mục đích chính yếu đã đề ra khi thành lập Hiệp Hội này, là phổ biến khắp nơi tình yêu thực tiễn đối với Thánh Giá Con Thiên Chúa, và làm sao cho các thành phố cũng như xóm làng đều có một số tín hữu chẳng những hằng ngày suy niệm, mà còn thực sự thông phần các đau khổ của Chúa Giêsu-Kitô bằng việc chế ngự thân xác.   Sự thực hành việc đạo đức thánh hảo này có tác dụng tạo ra nhiều ơn phước trong các địa phương ở đây, đến độ những ai có diễm phúc lãnh nhận các ơn ấy, đều chỉ tiếc rằng đã bắt đầu thực hành quá muộn, hay nói đúng hơn là đã không biết điều đó sớm hơn nữa.

 

Comments are closed.