NGÔN NGỮ CỦA TÌNH YÊU

 “ChỊ em hãy dùng mọi cách để kêu gọi
những phụ nữ và thiếu nữ trụy lạc trở về nếp sống lương thiện
-Đức Cha Lambert-

Tôi đến Hoa Kỳ năm 1975 theo làn song người tị nạn.  Là một nữ tu Mến Thánh Giá, tôi tiếp tục sống đời thánh hiến trong Hội Dòng với sứ mạng tông đồ thừa sai để đến với tha nhân trong tình yêu Thiên Chúa.  Mặc dù ở tuổi trung niên, tôi bắt đầu học tiếng Mỹ và theo nghành Xã Hội Học để chuẩn bị cho sứ mạng tông đồ trong một cuộc sống mới.

Mùa hè năm 1985, tôi đến phục vụ tại một trung tâm dành cho những phụ nữ vô gia cư thuộc Tổng Giáo Phận Los Angeles, California.  Trung tâm này là một chương trình của Hội Bác Ái Công Giáo, được mang tên “Good Shepherd Center”.  Trung tâm “Good Shephered” gồm có ba nhà:

  1.  Languille Residence: Trung tâm tạm trú cho những phụ nữ không nhà cửa và nghề nghiệp.
  2.  Transitional Hawkes Residence: Trung Tâm chuyển tiếp dành cho những phụ nữ đang trong thời gian tìm việc làm
  3. Mother- Child Residence: Nơi tạm trú cho những người mẹ có con thơ.

Những phụ nữ tôi phục vụ và cùng làm việc thuộc nhiều sắc tộc trên khắp thế giới:  Mỹ Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Phi Châu, Nhật , Liban, Do Thái, Tàu, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan…Chúng tôi cùng làm việc, giải trí và học hỏi nơi nhau những nét đẹp độc đáo cá biệt của mỗi chủng tộc, văn hóa và cá nhân.  Qua đó, chúng tôi cùng nhau xây dựng nhiệm thể của Chúa Kitô trong tình liên đới các chủng tộc.

Là một nữ tu Việt Nam phục vụ chương trình bác ái cho nhiều sắc tộc và sống trong xã hội Hòa Kỳ, tôi đã đương đầu với nhiều khó khăn nhấ t là trong vấn đề ngôn ngữ.  Khi mới đến trung tâm, tôi rất lo lắng và sợ hãi, nghĩ rằng tôi không đủ Anh Ngữ để làm công việc này.  Tuy nhiên , tôi nhớ mãi Sister Julia Mary Farley, vị nữ tu điều hành trung tâm nói  với hai chị nữ tu khác và tôi như sau:  “Xin các chị đừng lo lắng.  Các chị sẽ tiếp tục học Anh Ngữ trong khi làm việc tại đây.  Sự hiện diện của các chị là điều quan trọng hơn cả, nhất là tình thương và nụ cười của các chị,” Với sự khích lệ của Sister Julia Mary, tôi thấy an tâm và phấn khởi tiếp tục công việc tại trung tâm cho đến hôm nay.  Tính ra được mười lăm năm.

Giờ đây, tôi nhận thấy mặc dù ngôn ngữ vẫn luôn là một trở ngại lớn nhất đối với tôi, nhưng điều này không ngăn cản tôi sống và làm việc cho những người vô gia cư thuộc mọi màu da, văn  hóa và ngôn ngữ  khác biệt, vì tôi xác tín rằng có một thứ ngôn ngữ chung mà mọ người đều có thể nhận biết được, đó là “Ngôn Ngữ Của Tình Yêu”.  Với tình yêu của Thiên Chúa trong tim, tôi có thể  yêu thương và giúp đỡ tha nhân một cách đắc lực và hữu hiệu.  Với ý tưởng “xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô”, tôi thấy vui tươi phấn khởi được dịp phục vụ cho nhiều tầng lớp và sấc dân thuộc khắp nơi trên thế giới không phân biệt màu da tiếng nói.  Tôi thấy như mình là một thừa sai đã được đi đến khắp nơi trên thế giới để yêu thương phục vụ cho mọi dân tộc mặc dù tôi chỉ sống trong không gian giới hạn của “Good Shephered Center”.

Tôi nhìn thấy hình ảnh  một Chúa Kitô bị bỏ rơi và đau khổ nơi những phụ nữ vô gia cư.  Họ đến với chúng tôi không chỉ tìm kiến một nơi ăn chốn ở mà thôi nhưng tận trong đáy lòng, họ khắc khoải mong tìm gặp được tình thương và sự chữa lành những vết thương trong tâm hồn do cuộc đời gây ra.

Tôi yêu thích công việc tại “Good Shephered Center” vì nó cho tôi cơ hội để yêu thương và phục vụ chính Thiên Chúa qua những người khốn khổ kém may mắn, được chạm đến và chia sẻ sự nghèo nàn thiếu thốn của con người, được xoa dịu những tâm hồn tan vỡ, và nhất là thể hiện đoàn sủng của Hội Dòng nhữ đã được trích dẫn trong sách linh đạo: “Phục vụ trong con tim  của Giáo Hội, xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô  trong văn hóa và xã hội hiện đại, giúp đỡ cho giáo hội địa phương để tạo nên một nền móng vững chắc, hợp tác với hàng giáo sĩ tu sĩ  trong và ngoài nước, để qui tụ và hợp nhất mọi dân tộc của Thiên Chúa và bước theo tinh thần Phúc Âm, đến với mọi người với một thái độ kính trọng, dịu dàng khiêm tốn, loan truyền Chúa Kitô Chiu-đóng-đinh không chỉ bằng công việc, nhưng còn bằng sứ mạng tông đồ, làm chứng tá bằng chính đời sống đức tin vào Chúa Kitô mà chị tuyên xưng” (LBLB 30a, 30b).

Công  việc này đem lại cho tôi niềm vui sâu xa khi nghĩ đến Lời Chúa phán: “Vì xưa ta đói ngươi đã cho ta ăn, Ta khát, ngươi đã cho uống…..Ta là khách lạ người đã đón tiếp” (Mt 25:35).  Niềm vui đó trở nên một phần thưởng bất ngờ, một hạnh phúc êm đềm chan chứa mỗi khi nghe Chúa xác định: “ Ta bảo thật các ngươi, bất cứ điều gì các ngươi làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta, các ngươi đã làm cho chính Ta”

( Mt25:40).

Comments are closed.